Quan hệ pháp luật phát sinh quanh những chế định về sáng chế luôn tồn tại rất nhiều các chủ thể khác nhau, không chỉ đơn thuần là chủ sở hữu sáng chế. Và pháp luật quy định về giới hạn quyền sở hữu công nghiệp để cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế với những chủ thể còn lại, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể.

Để tư vấn cũng như giải đáp chi tiết về vấn đề này, Luật Thành Đô trân trọng gửi tới Quý độc giả bài viết Các trường hợp giới hạn quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế.

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

– Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11;

– Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ;

– Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ;

– Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ;

– Các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Các trường hợp giới hạn quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế
Các trường hợp giới hạn quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế

II. CÁC TRƯỜNG HỢP GIỚI HẠN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ

2.1. Giới hạn bởi quyền sử dụng trước đối với sáng chế

Trong thực tế, vào cùng một thời điểm có thể có nhiều người cùng nghiên cứu, cùng sáng tạo một sáng chế hoặc những sáng chế đồng nhất. Cùng với đó vào thời điểm có người nộp đơn đăng ký sáng chế thì cũng có người đã tạo ra và sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đó.

Để đảm bảo công bằng cho sự sáng tạo của tất cả mọi người thì nhà nước đã quy định trường hợp bảo vệ quyền lợi cho những chủ thể này ở Khoản 16 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009. Đây là trường hợp xảy ra khi trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế, có người sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó tiếp tục có quyền sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế được bảo hộ.

Đây gọi là quyền sử dụng trước đối với sáng chế – trường hợp quyền sử dụng của người sở hữu sáng chế bị giới hạn khi không chỉ chủ sở hữu sáng chế mà người có quyền sử dụng trước sáng chế cũng có quyền sử dụng sáng chế dù đã có văn bằng bảo hộ.

2.2. Giới hạn bởi nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế

Trong thực tế có trường hợp tác giả sáng chế không đồng thời là chủ sở hữu sáng chế mà chỉ là người sáng tạo ra sáng chế thông qua hợp đồng, thỏa thuận với chủ sở hữu sáng chế.

Tuy nhiên sự sáng tạo của tác giả sáng chế là không thể phủ nhận, chính vì lý do đó nhà nước đã quy định trường hợp chủ sở hữu phải có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác) theo  Khoản 53 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022. Lợi ích của tác giả sáng chế luôn được bảo vệ khi nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế được quy định trong suốt thời gian bảo hộ của sáng chế. 

2.3. Giới hạn bởi nghĩa vụ sử dụng sáng chế cơ bản nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc

Sáng chế phụ thuộc là sáng chế được tạo ra trên cơ sở một sáng chế khác (sáng chế cơ bản) và chỉ có thể sử dụng được với điều kiện phải sử dụng sáng chế cơ bản. Đặc biệt với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam với trình độ khoa học, công nghệ còn thấp thì quy định bảo vệ lợi ích đối với các sáng chế phụ thuộc là cần thiết.

Trường hợp chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc chứng minh được sáng chế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và có ý nghĩa kinh tế thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế với giá cả và điều kiện hợp lý.

Trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu này dù đã thương lượng với giá cả và điều kiện hợp lý mà không có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế cơ bản.

2.4. Giới hạn bởi nghĩa vụ sử dụng sáng chế

Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ (sáng chế) để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Mà nếu trường hợp chủ sở hữu sáng chế không thực hiện các nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế.

Trong trường hợp này, lợi ích cộng đồng, nhu cầu xã hội được đặt ngang với lợi ích của chủ sở hữu sáng chế. Chủ sở hữu sáng chế cũng phải chứng minh có khả năng và điều kiện sử dụng sáng chế để đáp ứng các nhu cầu, mục đích nói trên.

2.5. Giới hạn bởi quyết định chuyển giao quyền sử dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đối với các sáng chế được tạo ra bằng việc sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước thì quyền sử dụng sáng chế đó có thể thuộc về nhà nước hoặc bị chuyển giao bởi quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, bộ, cơ quan ngang bộ có quyền nhân danh Nhà nước sử dụng hoặc cho phép tổ chức khác sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý của mình nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế.

Bài viết cùng chủ đề:

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bí mật kinh doanh

Trên đây là toàn bộ các trường hợp quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế bị giới hạn. Nếu Quý độc giả còn có bất cứ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề này, vui lòng liên hệ Công ty Luật Thành Đô để được tư vấn và giải đáp chi tiết.

Đánh giá bài viết này