Trên thực tế ta thấy xảy ra nhiều trường hợp mâu thuẫn trong gia đình vì vấn đề tiền bạc, đặc biệt là vấn đề nợ nần. Vậy những trường hợp nào vợ chồng không cùng nhau trả nợ? Pháp luật về hôn nhân quy định như thế nào?  Tất cả những câu hỏi đó sẽ được Luật Thành Đô tư vấn và giải đáp cụ thể ở bài viết này.

Để hiểu rõ hơn về pháp luật hôn nhân, bài viết này sẽ giải đáp các trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ hay theo ngôn ngữ pháp lý là các trường hợp vợ hoặc chồng không phải liên đới trả nợ. Liên đới trả nợ tức là một người trong hôn nhân xác lập một khoản nợ và vợ hoặc chồng của người đó phải cùng trả nợ.

trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ
trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC

– Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

II. TƯ VẤN NHỮNG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG KHÔNG CÙNG NHAU TRẢ NỢ

2.1. Khái niệm hôn nhân, thời kỳ hôn nhân, ly hôn

Để biết các trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ thì ta phải phân tích được hôn nhân là gì, thời kỳ hôn nhân là sao? Ly hôn là gì?

(+) Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì HÔN NHÂN được định nghĩa là mối quan hệ giữa hai bên vợ và chồng sau khi đăng ký kết hôn;

(+) Thời kỳ hôn nhân đó là một khoảng thời gian mà tồn tại quan hệ vợ chồng, thời kỳ hôn nhân sẽ được tính bắt đầu từ ngày vợ chồng đăng ký kết hôn cho đến ngày chấm dứt hôn nhân theo quy định của pháp luật. (Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014);

(+) Ly hôn được xác định là việc mà quan hệ vợ chồng của các bên sẽ chấm dứt dựa theo bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. (Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

2.2. Các trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ

Trường hợp 1.  Mục đích vay tiền KHÔNG đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Theo quy định tại Điều 30 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

Tuy nhiên không phải gia đình nào  hoặc người nào cũng có tài sản riêng, vì vậy khi không có đủ điều kiện nêu trên mà một trong hai có quyền đứng ra vay một khoản tiền từ một đối tượng nào đó thì bên kia phải liên đới chịu trách nhiệm.

liên hệ luật sư tư vấn pháp luật
liên hệ luật sư tư vấn pháp luật

Trường hợp 2: Vợ chồng không cùng nhau trả nợ nếu việc vay mượn tiền KHÔNG dựa trên căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng.

Để hiểu thì, căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng được quy định tại Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp 3: Trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung nhưng có thỏa thuận khác hoặc luật HNGĐ và luật khác có liên quan quy định khác về nghĩa vụ vay tiền về đại diện trong quan hệ kinh doanh

Trường hợp 4: KHÔNG thuộc các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng sẽ không phải cùng nhau trả nợ nếu không thuộc các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng theo Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các nghĩa vụ chung đó là:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Vậy đó là nội dung tư vấn của Luật Thành Đô về những trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ. Tuy nhiên, với những giao dịch dân sự phát sinh bên ngoài, rất khó để phân định khi những người ngoài, không thân thích, vẫn luôn mặc định xác lập quan hệ dành cho người đã có gia đình là giao dịch của vợ chồng. Trừ khi một trong hai người vợ chồng yêu cầu xác lập giao dịch đó của riêng mình. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, người còn lại cần đưa ra những chứng cứ chứng minh mình không thuộc, không biết cũng không thực hiện giao dịch dân sự đó.

5 lý do nên dử dụng dịch vụ của luật thành đô
5 lý do nên dử dụng dịch vụ của Luật Thành Đô

Bài viết tham khảo: Giải quyết ly hôn khi chồng đang ở nước ngoài

Trên đây là tư vấn của công ty Luật Thành Đô về những trường hợp vợ chồng không cùng nhau trả nợ, nếu còn có thắc mắc cần được giải đáp quý khách hàng vui lòng liên hệ Luật Thành Đô qua tổng đài tư vấn pháp luật 1900 1958 để được hỗ trợ tốt nhất