Trong một số trường hợp cần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm hành chính, những người có thẩm quyền sẽ có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính. Việc khám người theo thủ tục hành chính được thực hiện trong các trường hợp nào? Những cá nhân nào có quyền ra quyết định? Có những lưu ý gì về việc khám người theo thủ tục hành chính?

Những thắc mắc trên sẽ được Luật Thành Đô trả lời thông qua bài viết “Quy định về khám người theo thủ tục hành chính”.

I. Cơ sở pháp lý

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

II. Quy định về khám người theo thủ tục hành chính

2.1. Căn cứ khám người theo thủ tục hành chính

Theo Điều 119 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì khám người theo thủ tục hành chính là một trong các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.

Tại Khoản 1 Điều Điều 127 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

“1. Việc khám người theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.”

Theo đó, người có thẩm quyền chỉ có thể quyết định khám người theo thủ tục hành chính khi có đủ các căn cứ cho rằng trong người của họ cất giấu đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Điều này nhằm đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Quy định về khám người theo thủ tục hành chính
Quy định về khám người theo thủ tục hành chính

2.2. Quy trình khám người theo thủ tục hành chính

– Trước khi tiến hành khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám biết.

– Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến.

– Để đảm bảo nguyên tắc khám người, việc khám người phải có quyết định bằng văn bản

(Trừ trường hợp cần khám ngay khi có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy)

– Nhằm ghi nhận quá trình khám người, mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản. – Quyết định khám người và biên bản khám người phải được giao cho người bị khám 01 bản.

III. Thẩm quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính

Theo Khoản 2 Điều 127 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính. Cụ thể như sau:

– Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an phường;

– Trưởng Công an cấp huyện;

– Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh của Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường;

– Thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, Trạm trưởng Trạm công an cửa khẩu;

– Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động;

– Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục hải quan;

– Đội trưởng Đội quản lý thị trường;

– Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên phòng, Trưởng đồn biên phòng và Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên giới, hải đảo;

– Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển, Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển, Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển;

– Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga;

– Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Lưu ý: Những người có thẩm quyền khám người theo thủ tục hành chính nếu vắng mặt có thể giao quyền cho cấp phó và phải có văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền.

Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy, ngoài những người có thẩm quyền nêu trên thì chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục hành chính. Việc khám người của những chủ thể này phải được báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng.

Như vậy, khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính thì những chủ thể nêu trên sẽ có quyền ra quyết định khám người theo thủ tục hành chính.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô
5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô

Trên đây là bài viết của Luật Thành Đô về “Quy định về khám người theo thủ tục hành chính”. Nếu còn thắc mắc cần được giải đáp hay có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ luật sư công ty Luật Thành Đô: 1900.1958.