Đánh bạc đã và đang là một vấn nạn nhức nhối đối với xã hội hiện đại ngày nay. Xã hội càng phát triển, công nghệ càng hiện đại thì kéo theo đó là việc đánh bạc và hình thức đánh bạc cũng ngày càng đa dạng và tinh vi.

Nhận thức được tác hại của đánh bạc đối với xã hội, pháp luật hình sự nước ta đã nghiêm trị những hành vi này. Vậy quy định xử phạt hình sự đối với hành vi đánh bạc cụ thể như thế nào? Khung hình phạt cơ bản và khung hình phạt tăng nặng cho tội đánh bạc ra sao? Luật Thành Đô xin tư vấn về vấn đề này như sau:

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

– Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại điều 248 và điều 249 của Bộ luật hình sự

Truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc
Truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc

II. KHI NÀO CẤU THÀNH TỘI ĐÁNH BẠC?

2.1. Dấu hiệu khách quan

Hành vi khách quan của tội phạm được quy định là hành vi đánh bạc trái phép. Trong đó, đánh bạc được hiểu là hành vi tham gia vào các trò chơi dưới những hình thức như xóc đĩa, bầu cua, tổ tôm, tam cúc, số đề, cá cược, đá (chọi) gà, đua xe, cá cược,… mà trong đó, người thắng được nhận một khoản lợi ích vật chất từ người thua hoặc người tổ chức. Lợi ích vật chất ở đây có thể là tiền (tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ) hoặc hiện vật như ô tô, xe máy, nhà cửa, gia súc, hàng hóa…

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp cứ tham gia chơi được thua bằng tiền hay hiện vật đều bị coi là hành vi phạm tội, như hình thức vui chơi giải trí mà người tham gia được thua bằng tiền hay hiện vật nhưng không bị coi là hành vi phạm tội đánh bạc (chơi lô tô, xổ số, casino,…) vì các trò chơi này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Như vậy, hành vi đánh bạc bị coi là trái phép khi trò chơi được tổ chức “mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp”.

Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự thì hành vi đánh bạc chỉ cấu thành tội phạm khi tài sản đánh bạc (của từng lần đánh bạc) có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên hoặc khi chủ thể có đặc điểm xấu về nhân thân là đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc.

Tài sản đánh bạc được hiểu là tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc, bao gồm:

+ Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

+ Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

+ Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét.

Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc.

Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa… (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa… trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt.

Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.

2.2. Dấu hiệu chủ quan

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý

luật sư tư vấn pháp luật
luật sư tư vấn pháp luật

III. TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TỘI ĐÁNH BẠC

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định cụ thể về hình phạt đối với tội đánh bạc như sau:

– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với những trường hợp sau:

+ Đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng

+ Đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 50.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

– Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với những trường hợp sau:

+ Có tính chất chuyên nghiệp: đó là khi người phạm tội tham gia đánh bạc từ 5 lần trở lên và tổng số tiền hay hiện vật dùng đánh bạc của mỗi lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu (từ 5.000.000 đồng trở lên), sử dụng tiền, hiện vật thu được từ đánh bạc làm nguồn sống chính thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đánh bạc có tính chất chuyên nghiệp.

+ Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

+ Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc, gá bạc).

+ Tái phạm nguy hiểm.

Bên cạnh đó, khung hình phạt bổ sung có thể áp dụng là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

5 lý do nên dử dụng dịch vụ của luật thành đô
5 lý do nên dử dụng dịch vụ của Luật Thành Đô

Các bài viết liên quan:

Cách trình báo tội phạm tới cơ quan công an

Mua xe trả góp không thanh toán được có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc. Nếu quý bạn đọc còn có những băn khoăn, vướng mắc liên quan đến vấn đề này, vui lòng liên hệ qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19001958 của Luật Thành Đô để được tư vấn chi tiết./.