Nhằm phát triển và nâng cao trình độ lao động, nhiều doanh nghiệp đã bỏ kinh phí tổ chức đào tạo nghề cho người lao động. Tuy nhiên, sau khi được đào tạo không ít trường hợp người lao động tự ý bỏ việc, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng đào tạo nghề.Trong trường hợp này người lao động có thể sẽ phải hoàn trả chi phí đào tạo nghề cho người sử dụng lao động.

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

Bộ luật lao động 2019;

– Luật Giáo dục và nghề nghiệp 2014.

II. CÁC TRƯỜNG HỢP NLĐ PHẢI BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO NGHỀ

Theo quy định tại Điều 62 BLLĐ 2019 thì người lao động và người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp trong thời gian lao động. Trong hợp đồng đào tạo nghề phải có nội dung về thời hạn Người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo; chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo của người lao động.

Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào NSDLĐ và NLĐ cũng ký hợp đồng đào tạo nghề. Điều này có thể xuất phát từ thói quen của doanh nghiệp, cũng có thể do doanh nghiệp chưa hiểu đúng hoặc chưa được tư vấn đầy đủ các quy định pháp luật, hoặc vì những lý do khác.

Từ thực tế nêu trên, căn cứ quy định của BLLĐ 2019, việc hoàn trả chi phí đào tạo nghề của NLĐ có thể xảy ra các trường hợp sau đây:

Khi nào phải bồi thường chi phí đào tạo nghề
Khi nào phải bồi thường chi phí đào tạo nghề

Trường hợp 1: Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp

Trong trường hợp này theo BLLĐ 2019 không có quy định người lao động phải bồi thường chi phí đào tạo nghề cho người sử dụng lao động. Tuy nhiên,  khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục và nghề nghiệp 2014  quy định:

“ Người tốt nghiệp các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo”.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề theo quy định BLLĐ 2019 và trong hợp đồng có điều khoản về trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo và các khoản bồi thường khác mà người lao động vi phạm cam kết về thời gian làm việc thì sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo như đã cam kết. Ngược lại, khi người lao động thực hiện đúng thời hạn làm việc sau khi được đào tạo theo hợp đồng đào tạo nghề thì khi chấm dứt hợp đồng lao động không phải bồi thường chi phí đào tạo.

Ngoài ra, nếu hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề theo quy định BLLĐ 2019 và trong hợp đồng không có điều khoản về trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo và các khoản bồi thường khác thì khi chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp không phải bồi thường chi phí đào tạo nghề cho người sử dụng lao động.

Trường hợp 2: người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Trong trường hợp này, nếu hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề theo quy định Điều 62 BLLĐ 2019 và trong hợp đồng có ( không có)  điều khoản về trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo và các khoản bồi thường khác mà người lao động vi phạm cam kết về thời gian làm việc hoặc không có thỏa thuận ký kết hợp đồng đào tạo nghề  thì cũng sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động.

III. KHOẢN CHI PHÍ ĐÀO TẠO MÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG PHẢI BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

Theo quy định tại khoản 3 Điều 62 BLLĐ 2019 người lao động bồi thường những khoản phí đào tạo cho người sử dụng lao động như sau:

Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo”.

Tuy nhiên, bên cạnh việc hoàn trả chi phí đào tạo, người lao động có thể còn phải bồi thường thêm khoản tiền do vi phạm hợp đồng nếu trước đó các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm.

Việc yêu cầu bồi thường do vi phạm dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng cho phép các bên tự do thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng. Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 không đặt ra mức tối đa đối với phạt vi phạm mà sẽ do các bên tự thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong khi đó, Bộ luật Lao động cũng không có quy định nào về vấn đề này. Vì vậy, việc áp dụng mức nào sẽ do sự thỏa thuận của các bên.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô

Bài viết liên quan:

Quyền lợi của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Khi nào người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc

Như vậy, doanh nghiệp có thể thỏa thuận với người lao động về việc phạt vi phạm hợp đồng đào tạo nghề gấp nhiều lần chi phí đào tạo cũng không trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp tại Tòa án, với sự xem xét, cân bằng lợi ích giữa các bên thì mức phạt vi phạm được Tòa án áp dụng có thể thấp hơn so với mức các bên thỏa thuận trước đó