Khiếu nại và khiếu kiện là những cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quan hệ pháp luật với các chủ thể mang quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, hai khái niệm này là không đồng nhất với nhau mà có sự khác biệt nhất định. Vậy chúng cần được hiểu như thế nào? Trong bài viết sau đây, Luật Thành Đô sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ

– Luật Khiếu nại 2011 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

– Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

Phân biệt khiếu kiện và khiếu nại
Phân biệt khiếu kiện và khiếu nại

II. PHÂN BIỆT KHIẾU KIỆN VÀ KHIẾU NẠI

  Khiếu nại Khiếu kiện
Khái niệm Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của chủ thể có thẩm quyền khi khi có căn cứ cho rằng  quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

(Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011)

Khiếu kiện (gọi đầy đủ là khiếu kiện hành chính hay khởi kiện hành chính) là việc thông qua con đường tố tụng, khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Chủ thể – Người khiếu nại:

+ Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức của mình.

+ Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại đối với quyết định kỷ luật của mình.

(Khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011)

– Người giải quyết khiếu nại: cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại được phân thành thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu và thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2, được quy định cụ thể từ Điều 17 đến Điều 26 Luật Khiếu nại 2011

 

– Người khởi kiện: Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với các đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ.

– Người bị kiện: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc theo đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(Khoản 8, 9, 10 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019))

Đối tượng – Quyết định hành chính;

– Hành vi hành chính;

– Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.

(Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011)

– Hành vi hành chính, trừ một số trường hợp pháp luật quy định không được khởi kiện;

– Quyết định hành chính, trừ một số trường hợp pháp luật quy định không được khởi kiện;

– Quyết định kỷ luật buộc thôi việc từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống;

– Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

(Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019))

Thời hiệu – Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

– Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà có giấy tờ hợp lệ làm căn cứ để chứng minh, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

(Điều 9 Luật Khiếu nại 2011)

– 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc.

– 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

(Khoản 2, 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019))

Hình thức Thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

(Điều 8 Luật Khiếu nại 2011)

– Khi khởi kiện vụ án hành chính thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm đơn khởi kiện.

– Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

(Điều 117, Điều 118 Luật Tố tụng hành chính 2015)

Theo quy định hiện hành, không bắt buộc một chủ thể phải thực hiện việc khiếu nại trước rồi mới được thực hiện khởi kiện vụ án hành chính. Nếu một chủ thể vừa có quyền khởi kiện, vừa có quyền khiếu nại thì người đó có thể lựa chọn một trong hai hình thức trên để có thể giải quyết các vụ việc nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô

Bài viết liên quan:

Hướng dẫn Thủ tục tiến hành khiếu nại

Khiếu nại là gì ? Những trường hợp nào cần tiến hành khiếu nại

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật Thành Đô về vấn đề Phân biệt khiếu kiện và khiếu nại, mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 1900 1958 để được hỗ trợ giải đáp.