Hiện nay, có nhiều dịch giả khi dịch tác phẩm từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt đã tự đặt tên khác cho tác phẩm dịch. Nhiều người cho rằng điều đó không có gì sai trái cả, tuy nhiên sự thật có phải như vậy, trong bài viết sau, Luật Thành Đô sẽ giúp các bạn trả lời câu hỏi này.

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ

– Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019)

– Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan

– Nghị định 131/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan

Dịch giả có quyền đặt tên cho tác phẩm họ dịch không
Dịch giả có quyền đặt tên cho tác phẩm họ dịch không

II. QUYỀN ĐẶT TÊN CHO TÁC PHẨM LÀ GÌ?

Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ định nghĩa:

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”

Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

“Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.”

Quyền tác giả đối với tác phẩm được bảo hộ tự động, không phải đăng ký, không phụ thuộc vào nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Cơ chế bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ hình thức thể hiện của tác phẩm, chống lại hành vi sao chép tác phẩm, không bảo hộ về mặt nội dung, ý tưởng tác phẩm.

Để được bảo hộ quyền tác giả thì tác phẩm phải đáp ứng các điều kiện nhất định bảo gồm:

– Tác phẩm phải có tính sáng tạo nguyên gốc, tức là phải do chính tác giả sáng tạo ra, không phải sự sao chép tác phẩm của người khác.

– Tác phẩm phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.

Mặt khác, để tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam thì tác giả của tác phẩm phải là:

– Tổ chức, cá nhân Việt Nam;

– Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác;

– Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.

Quyền tác giả bao gồm các quyền nhân thân và các quyền tài sản được quy định tại Điều 19 và Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ.

Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ quy định về quyền nhân thân như sau:

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

Đặt tên cho tác phẩm

Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Như vậy, đặt tên cho tác phẩm là một quyền nhân thân của tác giả. Quyền đặt tên cho tác phẩm được bảo hộ vô thời hạn.

III. DỊCH GIẢ CÓ QUYỀN ĐẶT TÊN CHO TÁC PHẨM DỊCH KHÔNG?

Khoản 1 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định:

“1. Quyền đặt tên cho tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật sở hữu trí tuệ. Quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.”

Từ quy định trên ta thấy, quyền đặt tên cho tác phẩm dịch không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, do đó, dịch giả của tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác không có quyền đặt tên cho tác phẩm dịch của mình.

III. VI PHẠM QUYỀN ĐẶT TÊN CHO TÁC PHẨM BỊ XỬ PHẠT NHƯ THẾ NÀO?

Điều 9 Nghị định 131/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan quy định:

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tác phẩm mà không nêu tên thật, bút danh tác giả, tên tác phẩm hoặc nêu không đúng tên thật hoặc bút danh tác giả, tên tác phẩm trên bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng thông tin sai lệch đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Buộc sửa lại đúng tên tác giả, tên tác phẩm trên bản sao tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có thông tin sai lệch về tên tác giả, tên tác phẩm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.

Theo quy định trên, dịch giả tự ý đặt tên cho tác phẩm dịch khác so với tác phẩm gốc tiếng nước ngoài có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, dịch giả còn phải sửa lại đúng tên tác phẩm trên bản sao tác phẩm.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ của luật thành đô
5 lý do nên sử dụng dịch vụ của luật thành đô

Bài viết cùng chủ đề:

Có được lấy coca-cola làm nhãn hiệu giày dép không?

Phân biệt cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh và cơ chế bảo hộ sáng chế

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật Thành Đô, mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 1900 1958 để được hỗ trợ giải đáp.