Xuất phát từ tình hình thực tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp hàng hoá, do nhu cầu đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh xuất hiện ở mọi khâu trong quá trình đổi mới khoa học, kỹ thuật, trong sản xuất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Đó cũng là những cơ sở để hình thành và phát triển dịch vụ logistics.

Ở Việt Nam trong những năm gần đây thì dịch vụ logistics đang phát triển và trở thành một trong những loại dịch vụ rất tiềm năng. Theo đó, các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cơ bản mà pháp luật đã quy định. Bài viết dưới đây của Luật Thành Đô sẽ cung cấp cho bạn đọc những nội dung liên quan đến: “Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics”

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ

– Luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn.

– Nghị định 163/2017/NĐ- CP của Chính phủ ngày 30 tháng 12 năm 2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics.

– Các văn bản khác liên quan.

II. ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS

2.1. Điều kiện chung của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics quy định tại Điều 3 Nghị định 163/2017/NĐ- CP này phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó. Theo đó, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cần phải đáp ứng các điều kiện cơ bản như sau:

– Điều kiện 1: điều kiện về tư cách chủ thể

Căn cứ theo Nghị định 163/2017/NĐ- CP của Chính phủ ngày 30 tháng 12 năm 2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải có đăng ký hợp pháp và phải hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc dưới hình thức là công ty cổ phần. Việc tổ chức quản lý trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

– Điều kiện 2: điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật.

Thương nhân trước khi kinh doanh dịch vụ logistics phải tiến hành các thủ tục để chứng minh đáp ứng được điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật đào tạo. Các điều kiện về tiêu chuẩn trong kinh doanh dịch vụ logistics khá đa dạng, phức tạp như: điều kiện về kho bãi, máy móc, dây chuyển đóng gói, cơ sở hạ tầng…Theo đó, pháp luật chuyên ngành quy định cụ thể về điều kiện của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phụ thuộc vào dịch vụ hoặc tổ hợp dịch vụ mà thương nhân cung ứng.

– Điều kiện 3: điều kiện về trình độ chuyên môn

Ở mỗi một ngành nghề thì đòi hỏi những trình độ về chuyên môn nhất định theo quy định của pháp luật và dịch vụ logistics cũng vậy. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn. Theo đó, đội ngũ nhân viên phải được đào tạo bài bản, đúng lĩnh vực, đúng chuyên ngành, và phải có khả năng thực hiện các công việc trong chuỗi dịch vụ logistics theo sự phân công, có trách nhiệm với nghề nghiệp.

Ngoài ra, nhân viên tham gia cung ứng dịch vụ phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.

Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics (ảnh minh họa)
Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics (ảnh minh họa)

2.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics của thương nhân nước ngoài

Căn cứ Điều 4 Nghị định 163/2017/NĐ- CP của Chính phủ ngày 30 tháng 12 năm 2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Theo đó:

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa), được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.

Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam. Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

+ Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.

+ Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật: Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.

Bên cạnh đó, pháp luật quy định về việc thương nhân kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật thì không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô
5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô

Bài viết liên quan:

Địa chỉ trụ sở chính công ty có được đặt tại chung cư không?

Thủ tục tăng vốn công ty TNHH 2 thành viên trở lên

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Thành Đô về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Để tư vấn và sử dụng dịch vụ quý khách vui lòng liên hệ số điện thoại 1900.1958 để được Luật sư tư vấn.