Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng là việc một bên dùng quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tiền. Khi thế chấp, người thế chấp cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình về việc thanh toán đúng số tiền, đúng thời hạn theo quy định.

Tuy nhiên hiện nay vẫn có nhiều trường hợp bên thế chấp không có khả năng chi trả cho khoản nợ đó vì nhiều nguyên nhân. Vậy theo quy định của pháp luật, khi thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng chi trả thì sẽ bị xử lý như thế nào? Sau đây Luật Thành Đô xin tư vấn như sau:

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

– Luật đất đai số 45/2013/QH13

– Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13

– Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, sửa đổi bổ sung bởi nghị định số 11/2012/NĐ-CP.

Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng trả
Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng trả

II. QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM

2.1. Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

 Điều 299 Bộ luật dân sự 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm như sau:

– Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

– Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

– Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

2.2. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm

    Căn cứ theo Điều 303 Bộ luật dân sự 2015, các phương thức xử lý tài sản thế chấp bao gồm:

 – Bán đấu giá tài sản;

– Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;

– Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

– Phương thức khác.

    Theo đó, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản thế chấp nêu trên. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.

2.3. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh

Điều 47 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bởi Khoản 13 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP quy định về việc xử lý tài sản của bên bảo lãnh: 

– Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tài sản thế chấp được xử lý theo quy định tại Chương IV của Nghị định này. 

– Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lý theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu bên bảo lãnh không giao tài sản thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật. 

– Tại thời điểm xử lý tài sản của bên bảo lãnh nếu bên bảo lãnh không có tài sản để xử lý hoặc khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo lãnh thì trong phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải giao tài sản có được sau thời điểm xử lý cho mình để tiếp tục xử lý.

2.4. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm

Điều 307 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm như sau:

– Số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:

+) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;

+) Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;

+) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.

– Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.

– Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.

III. THẾ CHẤP SỔ ĐỎ VAY TIỀN NGÂN HÀNG NHƯNG KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG CHI TRẢ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

Căn cứ vào những quy định trên, khi thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng mà đến hạn vẫn chưa có khả năng thanh toán thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm. Theo đó, người đi vay sẽ phải giao quyền sử dụng đất của mình cho ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo như thỏa thuận của các bên.

Điều 68 Nghị định 163/2006 quy định: “Trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì các tài sản này được bán đấu giá”. Do đó, nếu hai bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản thì ngân hàng sẽ phát mại, bán đấu giá quyền sử dụng đất. Số tiền thu được từ bán đấu giá quyền sử dụng đất được dùng để thanh toán chi phí thi hành án và khoản nợ theo quy định.

Nếu người đi vay không giao quyền sử dụng đất thì ngân hàng có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Khi đó, người thế chấp sẽ phải sử dụng tài sản của mình để thanh toán nợ cho ngân hàng.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô
5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô

Bài viết cùng chủ đề thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng không trả được:

Có được thế chấp một sổ đỏ ở nhiều ngân hàng không

Đối tượng được nhà nước giao đất, cho thuê đất

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng thanh toán bị xử lý như thế nào? Nếu quý bạn đọc còn có những băn khoăn, vướng mắc liên quan đến vấn đề này, vui lòng liên hệ qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19001958 của Luật Thành Đô để được tư vấn chi tiết./.