Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng là việc một bên dùng quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tiền. Khi thế chấp, người thế chấp cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình về việc thanh toán đúng số tiền, đúng thời hạn theo quy định.

Tuy nhiên hiện nay vẫn có nhiều trường hợp bên thế chấp không có khả năng chi trả cho khoản nợ đó vì nhiều nguyên nhân. Vậy theo quy định của pháp luật, khi thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng chi trả thì sẽ bị xử lý như thế nào? Sau đây Luật Thành Đô xin tư vấn như sau:

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ

– Luật đất đai số 45/2013/QH13

– Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13

– Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành bộ luật dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.

Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng trả
Thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng trả

II. QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM

2.1. Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Điều 299 Bộ luật dân sự 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm như sau:

– Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

– Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

– Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

2.2. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Căn cứ theo Điều 303 Bộ luật dân sự 2015, các phương thức xử lý tài sản thế chấp bao gồm:

– Bán đấu giá tài sản;

– Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;

– Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

– Phương thức khác.

Theo đó, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản thế chấp nêu trên. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.

2.3. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh

Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm như sau:

– Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện đúng với thỏa thuận của các bên, quy định của Nghị định 21/2021/NĐ-CP và pháp luật liên quan.

– Bên nhận bảo đảm thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm thì không cần có văn bản ủy quyền hoặc văn bản đồng ý của bên bảo đảm.

– Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó.

– Việc bên nhận bảo đảm xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm.

2.4. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm

Điều 307 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm như sau:

– Số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:

+) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;

+) Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;

+) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.

– Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.

– Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.

III. THẾ CHẤP SỔ ĐỎ VAY TIỀN NGÂN HÀNG NHƯNG KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG CHI TRẢ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

Căn cứ vào những quy định trên, khi thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng mà đến hạn vẫn chưa có khả năng thanh toán thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm. Theo đó, người đi vay sẽ phải giao quyền sử dụng đất của mình cho ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo như thỏa thuận của các bên.

Nếu người đi vay không giao quyền sử dụng đất thì ngân hàng có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Khi đó, người thế chấp sẽ phải sử dụng tài sản của mình để thanh toán nợ cho ngân hàng.

5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô
5 lý do nên sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật Thành Đô

Bài viết cùng chủ đề thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng không trả được:

Có được thế chấp một sổ đỏ ở nhiều ngân hàng không

Đối tượng được nhà nước giao đất, cho thuê đất

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng nhưng không có khả năng thanh toán bị xử lý như thế nào? Nếu quý bạn đọc còn có những băn khoăn, vướng mắc liên quan đến vấn đề này, vui lòng liên hệ qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19001958 của Luật Thành Đô để được tư vấn chi tiết./.

5/5 - (1 bình chọn)